Đối tượng quyết toán thuế TNCN gồm những đối tượng nào?

Câu hỏi 1: Đối tượng nào sẽ phải làm tờ khai quyết toán thuế TNCN với cơ quan thuế?

Khóa học Kế toán tổng hợp thực hành

Giảm 980,000₫ 

Trả lời 1:

Theo như Điểm b.2 của Khoản 1 Điều 16 TT156/2013 như sau:

1. Đối với tổ chức, cá nhân trả thu nhập

Tổ chức, cá nhân trả thu nhập thuộc diện chịu thuế TNCN không phân biệt có phát sinh khấu trừ thuế hay không phát sinh khấu trừ thuế có trách nhiệm khai quyết toán thuế theo biểu mẫu và có trách nhiệm quyết toán thuế thay cho cá nhân nếu cá nhân có uỷ quyền. Có thể hiểu như sau:

Công ty nếu có trả thu nhập cho người lao động thì công ty cuối năm làm tờ khai quyết toán thuế TNCN theo biểu mẫu của thuế TNCN (trên HTKK có mẫu biểu). Làm tờ khai quyết toán thuế TNCN thôi chứ không có nghĩa vụ quyết toán thuế TNCN dùm cho cá nhân.

Ví dụ: Năm 2014 Công ty có thuê 2 lao động mỗi lao động với mức thu nhập chịu thuế là 8 triệu/tháng. Do đó, 2 người lao động này không đến mức phải nộp thuế TNCN thì hàng tháng không phải làm tờ khai tạm nộp thuế TNCN nhưng cuối năm Cty vẫn phải làm tờ khai quyết toán thuế TNCN gửi cho cơ quan thuế của 2 người lao động này để cơ quan thuế quản lý (Để cơ quan thuế có thể kiểm tra xem những cá nhân này có thu nhập tại nơi nào khác ngoài nơi thu nhập tại Công ty của các bạn không. Cơ quan thuế sẽ biết được vấn đề này. Bởi vì Cơ quan thuế đang quản lý thuế TNCN của mỗi người lao động thông qua MST TNCN).

  • Trường hợp tổ chức, cá nhân không phát sinh trả thu nhập cho người lao động trong năm thì không phải làm tờ khai quyết toán thuế TNCN (tức không làm và không cần nộp)

Ví dụ: Năm 2014 Công ty không có trả lương cho người lao động (tức là công ty không có hạch toán qua TK 334, không có thuê lao động). Do đó, cuối năm 2014 công ty không phải làm tờ khai quyết toán thuế TNCN để gửi cho Cơ quan thuế

  • Trách nhiệm quyết toán thuế TNCN là do cá nhân trực tiếp quyết toán với Cơ quan thuế. Trừ trường hợp nếu cá nhân có ủy quyền cho công ty quyết toán thuế TNCN thì phải làm giấy ủy quyền và lúc này thì công ty sẽ quyết toán thuế TNCN thay cho cá nhân đó. Trường hợp nào cá nhân được ủy quyền thì các bạn đọc trong phần bên dưới các bạn sẽ rõ (Phần đối tượng nào được ủy quyền Công ty quyết toán và đối tượng nào không được ủy quyền cho Công ty quyết toán thuế).

2. Cá nhân có thu nhập từ tiền lương, tiền công

Cá nhân cư trú có thu nhập từ tiền lương, tiền công có trách nhiệm khai quyết toán thuế nếu:

  • Có số thuế khi quyết toán thuế nhiều hơn so với số đã tạm nộp trong năm (Trường hợp này nếu không làm tờ khai quyết toán cuối năm xem như là hành vi trốn thuế)

Ví dụ: Ông A cuối năm quyết toán thuế có số thuế TNCN phải nộp là 20 triệu. Nhưng trong năm Ông A đã tạm nộp 10 triệu => Số thuế TNCN phải nộp thêm khi làm tờ khai quyết toán thuế TNCN là 10 triệu => Ông A bắt buộc phải làm tờ khai quyết toán thuế TNCN cuối năm.

  • Hoặc có số thuế nộp thừa khi quyết toán (tức là số tạm nộp trong năm lớn hơn so với số thuế phải nộp khi quyết toán cuối năm) nếu không đề nghị hoàn hoặc không có nhu cầu bù trừ cho kỳ sau thì không phải làm tờ khai quyết toán thuế và xem như số bỏ luôn số thuế nộp thừa.

Ví du: Ông A cuối năm quyết toán thuế có số thuế TNCN phải nộp là 20 triệu. Nhưng trong năm Ông A đã tạm nộp 21 triệu => Số thuế TNCN phải nộp thêm là không có mà trở thành là Ông A đã nộp thừa 1 triệu => Ông A thuộc đối tượng làm quyết toán thuế TNCN để xin hoàn lại tiền hoặc hoặc xin bù trừ vào kỳ quyết toán thuế tiếp theo. Nếu ông A không làm thì cũng sẽ không bị phạt và Ông A lúc này sẽ mất khoản tiền nộp thừa và sẽ không được bù trừ cho những kỳ quyết toán thuế tiếp theo.

  • Hoặc nếu nộp thừa nhưng không muốn hoàn mà muốn bù trừ cho kỳ sau thì phải làm tờ khai quyết toán thuế TNCN, trừ các trường hợp sau thì không cần phải làm tờ khai quyết toán thuế:

Cá nhân có số thuế phải nộp khi quyết toán thuế TNCN nhỏ hơn số thuế đã tạm nộpkhông có yêu cầu hoàn thuế hoặc bù trừ thuế vào kỳ sau (như đã nói bên trên).
– Cá nhân có thu nhập từ tiền lương, tiền công ký hợp đồng lao động từ 03 tháng trở lên tại một đơn vị mà có thêm thu nhập vãng lai ở các nơi khác bình quân tháng trong năm không quá 10 triệu đồng đã được đơn vị trả thu nhập khấu trừ thuế tại nguồn theo tỷ lệ 10% nếu không có yêu cầu thì không phải quyết toán thuế đối với phần thu nhập từ thu nhập vãng lai này. Tức là lúc này chỉ quyết toán thuế TNCN của phần hợp đồng từ 3 tháng trở lên. Hoặc nếu mà có nhu cầu quyết toán thuế chung phần thu nhập vãng lai và phần thu nhập của hợp đồng từ 3 tháng trở lên phải cộng chung lại để trở thành tổng thu nhập chịu thuế TNCN trong năm thì thuế vẫn chấp nhận (Tức là có 2 cách làm trong trường hợp này)

Ví dụ: Ông A Ký hợp đồng lao động từ 3 tháng trở lên với Cty Nguyễn và mức thu nhập là 15 triệu /tháng. Biết rằng trong năm Ông A có hợp đồng dạy thêm (Không phải hợp đồng lao động mà là hợp đồng cộng tác viên) với mức thu nhập là 7 triệu/tháng với công ty Long và đã bị khấu trừ 10% cho mỗi lần trả.

Giải: Vậy Ông A có 2 chọn lựa

  • Cách 1: Ông A quyết toán thuế TNCN của phần hợp đồng lao động từ 3 tháng trở lên riêng biệt mà không cộng phần thu nhập vãng lai 7 triệu vào (Vì thu nhập vãng lai 7 triệu đã bị khấu trừ tại nguồn 10%).
  • Cách 2: hoặc Ông A sẽ phải quyết toán thuế TNCN cộng 2 phần thu nhập vào (Gồm thu nhập từ hợp đồng lao động từ 3 tháng trở lên và hợp đồng dạy thêm) để có tổng thu nhập và quyết toán cuối năm bình thường

– Cá nhân có thu nhập từ tiền lương, tiền công ký hợp đồng lao động từ 03 tháng trở lên tại một đơn vị mà có thêm thu nhập từ cho thuê nhà, cho thuê quyền sử dụng đấtdoanh thu bình quân tháng trong năm không quá 20 triệu đồng đã nộp thuế tại nơi có nhà cho thuê, có quyền sử dụng đất cho thuê nếu không có yêu cầu thì không quyết toán thuế đối với phần thu nhập này. (Đây là theo như hướng dẫn phần II của Cv 336/TCT-TNCN ngày 24/01/2014 hướng dẫn quyết toán thuế TNCN năm 2013)

Tuy nhiên, Theo như Điểm 5 Điều 25 của TT92/2015/TT-BTC ngày 16/05/2015 về thuế TNCN như sau:

5. Bãi bỏ các nội dung liên quan đến thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập cá nhân đối với cá nhân kinh doanh hướng dẫn tại Điều 16 và Điều 21 Thông tư số 156/2013/TT-BTC ngày 06/11/2013 của Bộ Tài chính.

=> Do đó, vấn đề về cá nhân có thu nhập từ tiền lương tiền công thì quyết toán riêng . Còn vấn đề cá nhân có thu nhập từ cho thuê nhà cho dù lớn hơn hay nhỏ hơn 20 triệu/tháng thì không phải quyết toán phần tiền cho thuê nhà này nữa (Vì theo TT92 đã bãi bỏ phần này)

Ví dụ: Ông A Ký hợp đồng lao động từ 3 tháng trở lên với Cty Nguyễn và mức thu nhập là 15 triệu /tháng. Biết rằng trong năm Ông A nhà cho thuê với giá là 28 triệu /tháng và tiền cho thuê nhà này Ông A đã tính thuế TNCN và GTGT với tỷ lệ là 10% và đã nộp cho nhà nước

Giải: Vậy Ông A chỉ có 1 cách lựa chọn là chỉ quyết toán phần thuế TNCN từ tiền lương tiền công thôi mà không phải quyết toán phần thu nhập từ việc cho thuê nhà (Vấn đề này là do thông tư 92 quy định và áp dụng từ năm 2015 trở đi)

=> Vậy là CÁ NHÂN CÓ THU NHẬP TỪ TIỀN LƯƠNG, TIỀN CÔNG THÌ THUỘC ĐỐI TƯỢNG PHẢI QUYẾT TOÁN TRỰC TIẾP VỚI CÁ QUAN THUẾ MÀ KHÔNG PHÂN BIỆT LÀ HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG TỪ 3 THÁNG TRỞ LÊN HAY DƯỚI 3 THÁNG, CÒN VẤN ĐỀ CÁ NHÂN ỦY QUYỀN CHO CÔNG TY QUYẾT TOÁN THAY LÀ 1 VẤN ĐỀ KHÁC (các bạn xem mục 3 bên dưới sẽ rõ khi nào thì cá nhân được ủy quyền cho Công ty quyết toán thuế TNCN)

Câu hỏi 2: Vậy là chúng ta đã biết đối tượng nào phải quyết toán thuế TNCN và đối tượng nào không phải quyết toán thuế TNCN của thu nhập từ tiền lương, tiền công. Tuy nhiên, trong trường hợp cá nhân có thu nhập từ tiền lương tiền công thuộc diện phải quyết toán thuế TNCN thì trường hợp nào cá nhân được ủy quyền cho Công ty quyết toán thuế TNCN và trường hợp nào Cá nhân không được ủy quyền cho Công ty quyết toán thuế TNCN mà phải quyết toán trực tiếp với Cơ quan thuế

Trả lời 2:

Trường hợp ủy quyền quyết toán thuế

a) Cá nhân có thu nhập từ tiền lương, tiền công ủy quyền cho tổ chức, cá nhân trả thu nhập quyết toán thuế đối với phần thu nhập do tổ chức, cá nhân trả trong các trường hợp sau:

– Cá nhân chỉ có thu nhập từ tiền lương, tiền công ký hợp đồng lao động từ 03 tháng trở lên tại một tổ chức, cá nhân trả thu nhập và thực tế đang làm việc tại đó vào thời điểm uỷ quyền quyết toán thuế (tức là đến 31/12 hàng năm), kể cả trường hợp không làm việc đủ 12 tháng trong năm.

Ví dụ: ông B 3 tháng đầu năm 2014 là thất nghiệp, 9 tháng cuối là đã có việc làm tại Cty C thì được ủy quyền cho Cty C quyết toán thuế TNCN tại Cty C trong năm 2014. Vì Mr C chỉ co thu nhập duy nhất 1 nơi là Cty C

– Cá nhân có thu nhập từ tiền lương, tiền công ký hợp đồng lao động từ 03 tháng trở lên tại một đơn vị, đồng thời có thu nhập vãng lai ở các nơi khác bình quân tháng trong năm không quá 10 triệu đồng/tháng đã được đơn vị trả thu nhập khấu trừ thuế theo tỷ lệ 10% nếu cá nhân không có yêu cầu quyết toán thuế đối với thu nhập vãng lai thì được ủy quyền quyết toán tại tổ chức trả thu nhập ký hợp đồng lao động từ 03 tháng trở lên. Nếu cá nhân có yêu cầu quyết toán thuế đối với thu nhập vãng lai thì cá nhân trực tiếp quyết toán với cơ quan thuế.

Ví dụ: Năm 2014, Ông E có thu nhập từ tiền lương, tiền công theo hợp đồng lao động trên 03 tháng tại Công ty A, đồng thời có thu nhập từ hợp đồng dịch vụ với 02 công ty khác là Công ty B, Công ty C. Tại Công ty B có thu nhập là 24 triệu đồng đã khấu trừ thuế 10%. Tại công ty C có thu nhập là 30 triệu đồng đã khấu trừ thuế 10%. Như vậy thu nhập vãng lai bình quân tháng trong năm 2014 của Ông E nhỏ hơn 10 triệu đồng (24 triệu đồng + 30 triệu đồng) : 12 tháng = 4,5 triệu đồng/tháng, nếu Ông E thuộc diện phải quyết toán thuế và không có yêu cầu quyết toán thuế đối với thu nhập vãng lai thì Ông E ủy quyền quyết toán thuế năm 2014 cho Công ty A. Công ty A chỉ quyết toán thuế thay Ông E đối với phần thu nhập do Công ty A trả.

Lưu ý: Nếu cá nhân có thu nhập tiền lương, tiền công từ 3 tháng trở lên và đồng thời có thu nhập vãng lai dưới 10 triệu/tháng nhưng tại nơi có thu nhập vãng lai chưa khấu trừ thuế TNCN theo tỷ lệ 10%. => Trong trường hợp này cá nhân không được ủy quyền quyết toán thuế TNCN đối với phần thu nhập từ tiền lương , tiền công của hợp đồng lao động từ 3 tháng trở lên mà trong trường hợp này cá nhân đó phải cộng 2 khoản thu nhập và trực tiếp quyết toán thuế TNCN

b) Cá nhân ủy quyền cho tổ chức, cá nhân trả thu nhập quyết toán thay theo mẫu số 2/UQ-QTT-TNCN ban hành kèm theo Thông tư số 92/2015/TT-BTC ngày 15/06/2015 của Bộ Tài chính, kèm theo bản chụp hóa đơn, chứng từ chứng minh đóng góp từ thiện, nhân đạo, khuyến học (nếu có).

Mẫu 2/UQ-QTT-TNCN theo TT92/20151

Trường hợp không ủy quyền quyết toán thuế
– Cá nhân đảm bảo điều kiện được ủy quyền cho tổ chức, cá nhân trả thu nhập quyết toán thuế theo hướng dẫn tại câu hỏi 2 của mục 4 nêu trên nhưng đã được tổ chức, cá nhân trả thu nhập cấp chứng từ khấu trừ thuế TNCN thì không ủy quyền quyết toán thuế cho tổ chức, cá nhân trả thu nhập (trừ trường hợp tổ chức, cá nhân trả thu nhập đã thu hồi và hủy chứng từ khấu trừ thuế đã cấp cho cá nhân).

Ví dụ: Cá nhân M có thu nhập từ tiền lương, tiền công của hợp đồng lao động từ 3 tháng trở lên tại Công ty Nguyễn Long và chỉ có duy nhất 1 nguồn thu nhập tại đây nhưng cá nhân M không muốn ủy quyền cho Công ty quyết toán thuế TNCN thay mình mà tự mình quyết toán thuế TNCN thì cá nhân M yêu cầu Cty Nguyễn Long xuất cho 1 chứng từ khấu trừ thuế TNCN và Cty Nguyễn Long đã cấp chứng từ khấu trừ thuế TNCN cho M=> M tự quyết toán thuế với cơ quan thuế nơi cá nhân đó cư trú. Nếu cá nhân M muốn Cty Nguyễn Long quyết toán thay thì Cty Nguyễn Long phải thu hồi lại chứng từ khấu trừ thuế TNCN của M.

– Cá nhân có thu nhập từ tiền lương, tiền công không đảm bảo điều kiện được ủy quyền cho tổ chức, cá nhân trả thu nhập quyết toán thuế theo hướng dẫn tại câu hỏi 2 cuả mục 4 nêu trên, nhưng thuộc diện phải quyết toán thuế TNCN theo quy định thì trực tiếp quyết toán thuế với cơ quan thuế trên toàn bộ thu nhập phát sinh trong năm, cụ thể một số trường hợp không ủy quyền quyết toán thuế TNCN như sau:

+ Cá nhân chỉ có thu nhập vãng lai đã khấu trừ thuế theo tỷ lệ 10% (kể cả trường hợp có thu nhập vãng lai duy nhất tại một nơi) thì cá nhân không uỷ quyền quyết toán.=> Cá nhân này nếu có số thuế TNCN phải nộp khi quyết toán thuế thì phải trực tiếp quyết toán với cơ quan thuế mà không được ủy quyền.

Ví dụ: Mr Minh không ký hợp đồng lao động mà Mr Minh ký hợp đồng tư vấn cho Cty A với mức thu nhập hàng tháng là 15 triệu/tháng. Và hàng tháng Cty A có cấp cho Minh chứng từ khấu trừ thuế TNCN. Biết Mr Minh chỉ co duy nhất 1 nguồn thu nhập này => Cuối năm Mr Minh phải trực tiếp quyết toán thuế TNCN với cơ quan thuế mà không được ủy quyền (Vì đây không phải là hợp đồng lao động)

+ Cá nhân có thu nhập từ tiền lương, tiền công ký hợp đồng lao động từ 03 tháng trở lên tại một đơn vị, đồng thời có thu nhập vãng lai chưa khấu trừ thuế (bao gồm trường hợp chưa đến mức khấu trừ và đã đến mức khấu trừ nhưng không khấu trừ) thì cá nhân không ủy quyền quyết toán thuế.

Ví dụ: Năm 2014, Ông E có thu nhập từ tiền lương, tiền công theo hợp đồng lao động trên 03 tháng tại Công ty A, đồng thời có thu nhập từ hợp đồng dịch vụ với 02 công ty khác là Công ty B, Công ty C. Tại Công ty B có thu nhập là 10 triệu đồng đã khấu trừ thuế 10%. Tại Công ty C có thu nhập là 1,5 triệu đồng chưa đến mức khấu trừ thuế. Như vậy, trong năm 2014 Ông có một khoản thu nhập chưa khấu trừ thuế, nếu Ông E thuộc diện quyết toán thuế thì Ông E không được ủy quyền quyết toán tại Công ty A, mà trực tiếp quyết toán với cơ quan thuế (vì có 1 nguồn thu nhập vãng lai nhưng chưa bị khấu trừ thuế TNCN).

-Cá nhân trong năm có thu nhập từ tiền lương, tiền công từ 2 nơi trở lên (theo như khoản C.2.1 Điểm 2 Điều 16 của TT156/2013/TT-BTC ngày06/11/2013) mà thuộc diện phải quyết toán thuế TNCN thì không được ủy quyền cho Công ty quyết toán thuế TNCN mà phải trực tiếp quyết toán thuế TNCN với cơ quan thuế

Ví dụ: Mr Minh trong 6 tháng đầu năm 2015 làm tại Cty A với mức lương là 8.500.000/tháng. 6 tháng cuối năm 2015 làm tại Cty B với mức lương là 15 triệu/tháng. Cuối năm áp dụng công thức tính thuế TNCN thì Minh phải nộp thuế TNCN=> Vậy trong năm 2015 Mr Minh có thu nhập 2 nơi=> Mr Minh không được ủy quyền cho Cty B quyết toán thuế TNCN mà lúc này Mr Minh yêu cầu cty A cấp cho 1 giấy xác nhận Tổng thu nhập tại Cty A (vì chưa đến mức khấu trừ thuế nên không thể cấp chứng từ khấu trừ thuế) và yêu cầu Cty B cấp cho 1 chứng từ khấu trừ thuế TNCN=> Mr Minh đến trực tiếp cơ quan thuế để quyết toán.

Lưu ý: Trường hợp điều chỉnh sau khi đã ủy quyền quyết toán thuế
Cá nhân sau khi đã ủy quyền quyết toán thuế, tổ chức, cá nhân trả thu nhập đã thực hiện quyết toán thuế thay cho cá nhân, nếu phát hiện cá nhân thuộc diện trực tiếp quyết toán thuế với cơ quan thuế thì tổ chức, cá nhân trả thu nhập không điều chỉnh lại quyết toán thuế TNCN, chỉ cấp chứng từ khấu trừ thuế cho cá nhân theo số quyết toán và ghi vào góc dưới bên trái của chứng từ khấu trừ thuế nội dung: “Công ty … đã quyết toán thuế TNCN thay cho Ông/Bà …. (theo ủy quyền) tại dòng (số thứ tự) … của Phụ lục Bảng kê 05-1/BK-TNCN” để cá nhân trực tiếp quyết toán thuế với cơ quan thuế.


Mời bạn tham khảo bộ sách tự học kế toán tổng hợp bằng hình ảnh minh họa

Sách Tự học kế toán bằng hình ảnh minh họa

Giảm 148k

Bán chạy!

Sách Bài tập & Bài giải của công ty sản xuất

Giảm 50k

Sách Tự học lập BCTC và thực hành khai báo thuế

Giảm 40k

Sách Tự học làm kế toán bằng phần mềm Misa

Giảm 100k

CHIA SẺ